Hotline: ( 024 ) 37 733 733

Taxi tải thành hưng Quận Hà Đông

Taxi tải thành hưng Quận Hà Đông chính thức được thành lập và công nhận vào ngày 6-12-1904 khi Toàn quyền Đông Dương đổi tỉnh Cầu Đơ thành tỉnh Hà Đông và lấy tỉnh lỵ là Hà Đông.

Taxi tải thành hưng Quận Hà Đông

Taxi tải Hà Đông

Taxi tải thành hưng Quận Hà Đông

chính thức được thành lập và công nhận vào ngày 6-12-1904 khi Toàn quyền Đông Dương đổi tỉnh Cầu Đơ thành tỉnh Hà Đông và lấy tỉnh lỵ là Hà Đông.
 I. Quá trình hình thành tên gọi Hà Đông
Năm 1831, để thống nhất tên gọi đơn vị hành chính theo tỉnh thay vì đơn vị trấn, vua Minh Mệnh đã điều chỉnh địa giới hành chính, tỉnh Hà Đông cũ nằm trong tỉnh Hà Nội. Tỉnh Hà Nội bao gồm vùng đất của 4 phủ và 16 huyện; phủ  Hoài Đức với 4 huyện: Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêm, Đan Phượng; phủ Thường Tín với 3 huyện: Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên; phủ Ứng Hòa với 4 huyện Sơn Minh, Thanh Oai, Chương Mỹ, Yên Đức; phủ Lý Nhân với 5 huyện Nam Xương, Bình Lục, Thanh Liêm, Duy Tiên, Kim Bảng.
Ngày 19 tháng 7 năm 1888, triều đình nhà Nguyễn nhượng đất kinh thành Thăng Long xưa và phần lớn diện tích đất hai huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận để xây dựng thành phố Hà Nội hiện đại làm thủ phủ của toàn xứ Đông Dương thuộc Pháp.
Ngày 26 tháng 12 năm 1896, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định chuyển tỉnh lỵ Hà Nội vào vùng đất làng Cầu Đơ thuộc tổng Thanh Oai Thường, huyện Thanh Oai. Tuy nhiên, đến ngày 21-5-1899, tòa sứ Pháp mới được di chuyển về Cầu Đơ, đánh dấu sự hoàn tất việc thành lập một lỵ sở mới của tỉnh Hà Nội với  trụ sở của Tòa công sứ đặt tại phía bên phải quốc lộ số 6, chiều Hà Nội - Hà Đông ngay gần phía Nam sông Nhuệ.
Ngày 3 tháng 5 năm 1902, Nghị định của Toàn quyền Đông Dương đổi tỉnh Hà Nội thành tỉnh Cầu Đơ, lấy Cầu Đơ làm tỉnh lỵ. Từ đây, tỉnh Cầu Đơ mới thực sự tách khỏi tỉnh Hà Nội cũ và cũng là lần đầu tiên địa danh của một làng quê lại được dùng để đặt tên cho một tỉnh mới lập ngay sát đất kinh kỳ.
Ngày 6 tháng 12 năm 1904, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đổi tỉnh Cầu Đơ thành tỉnh Hà Đông và từ đây cái tên Hà Đông bắt đầu xuất hiện.
Như vậy, có thể thấy Hà Đông được manh nha hình thành từ những năm 1896-1899 khi tòa công sứ của Chính phủ Pháp di dời về Cầu Đơ. Sau đó, tỉnh lỵ Hà Đông chính thức được thành lập và công nhận vào ngày 6-12-1904 khi Toàn quyền Đông Dương đổi tỉnh Cầu Đơ thành tỉnh Hà Đông và lấy tỉnh lỵ là Hà Đông. Lý do để Toàn quyền Đông Dương hồi ấy chọn Hà Đông vào vị trí thủ phủ cấp tỉnh được cho là:
Thứ nhất: Cầu Đơ là một vùng đất cao ráo dễ thoát nước. Theo thuyết phong thủy nơi đứng chân của tỉnh lỵ Hà Đông có hình thế của một con rồng trắng mà tỉnh lỵ Hà Đông ở vị trí đầu của con rồng ấy.
Thứ hai: tỉnh lỵ Hà Đông nằm bên đường thượng đạo (nay là quốc lộ số 6), lại là cửa ngõ phía tây nam của đất kinh kỳ Thăng Long xưa. Vị trí này rất tiện lợi giao thông đường bộ và tiếp đó là giao thông đường sắt khi vào năm 1911, đường tàu điện Hà Nội - Hà Đông được kéo dài tới tận chợ Hà Đông giáp bờ sông Nhuệ.
Thứ ba: tỉnh lỵ Hà Đông được kiến trúc như một đô thị bên bờ sông Nhuệ vốn là đường giao thông thủy quan trọng ở đồng bằng Bắc Bộ.
Như vậy, Hà Đông là vùng đất có được thiên thời và địa lợi, có địa thế cao ráo, tiện giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy.
Thứ tư: xét về mặt con người thì vùng đất Cầu Đơ nói riêng và vùng đất tổng Thanh Oai Thượng nói chung lại thêm được nhân tố nhân hòa và đấy là nhân tố gốc cơ bản giúp cho Hà Đông phát triển.
Bốn lý do trên đã phần nào khẳng định sự chọn lựa vùng đất này làm nơi đứng chân cho các cơ quan đầu não của một tỉnh trù phú và đông dân ở đồng bằng Bắc Bộ là hoàn toàn chính đáng. Và trên cả ý định chủ quan của viên Toàn quyền Beau người Pháp, sự lựa chọn này là sự chọn lựa của lịch sử, trung thực và khách quan.
II. Hà Đông qua những lần tách, nhập
Lần thứ nhất: vào cuối năm 1946 - chuẩn bị cho kháng chiến chống Pháp, địa bàn Thị xã được mở rộng thêm 10 làng xung quanh: Cầu Đơ, Hà Trì, Văn Quán, Mỗ Lao, Vạn Phúc, Văn Phú, Văn La, La Khê, Phùng Khoang, Triều Khúc.
Từ 2/3/1947, thị xã Hà Đông nằm trong vùng chiếm đóng của thực dân Pháp (đến 6/10/1954).
Lần thứ hai: Trước yêu cầu kháng chiến, tháng 5/1949, địa bàn thị xã Hà Đông được tái lập, bao gồm cả 4 xã ngoại thị (17 thôn).  Đó là: Tân Triều (gồm: Văn Quán, Yên Phúc, Xa La, Yên Xá, Triều Khúc); Kiến Hưng (Hà Trì, Đa Sỹ, Mậu Lương); Văn Khê (Cầu Đơ, Văn Phú, Văn La, La Khê); Cương Kiên (Mỗ Lao, Vạn Phúc, Ngọc Trục, Trung Văn, Phùng Khoang).
Đầu năm 1950, thôn Xa La (Tân Triều) được sáp nhập vào xã Kiến Hưng.
Ngày 6/10/1954, thị xã Hà Đông được giải phóng. Dân số toàn Thị xã lúc này là 26.000 người.
Lần thứ ba: Từ tháng 4/1955, ngoại thị chỉ còn lại 5 thôn, lập thành 3 xã là: Hà Cầu (Hà Trì - Cầu Đơ), Văn Mỗ (Văn Quán - Mỗ Lao) và Vạn Phúc (Thực hiện Quyết định của UBHC Liên khu III, 2/1955). Các xã Văn Khê và Cương Kiên (mỗi xã còn 3 thôn) về huyện Hoài Đức; các xã, thôn còn lại về huyện Thanh Trì. Tháng 7/1956, sau cải cách ruộng đất, thôn Ngọc Trục được sáp nhập trở lại, cùng với Vạn Phúc hợp thành xã Vạn Ngọc. Dân số ngày 1/10/1956 của Thị xã là 12.060 người (2.877 hộ).
Đầu năm 1959, bỏ đơn vị cấp xã, Thị xã hình thành 9 khu: 3 khu nội thị (Yết Kiêu, Quang Trung, Lê Lợi) và 6 khu ngoại thị (mỗi thôn là một khu).
Lần thứ tư: Từ tháng 6/1961, hai khu Yên Phúc và Xa La (Thanh Trì) sáp nhập trở lại Thị xã, khu Ngọc Trục về Hà Nội (Quyết định số 70- CP ngày 17/5/1961 của Hội đồng Chính phủ). Địa bàn Thị xã gồm 10 khu (nội thị 3, ngoại thị 7); diện tích tự nhiên là 8,7 km2.
Đầu năm 1965, bỏ cấp khu, 7 khu ngoại thị được sáp nhập thành 3 xã là: Văn Yên (Văn Quán, Mỗ Lao, Yên Phúc, Xa La), Hà Cầu (Hà Trì- Cầu Đơ) và Vạn Phúc. Nội thị lập thành 7 khối (gọi theo số thứ tự từ 1 đến 7- Thực hiện Nghị quyết số 24 -NV ngày 27/1/1965 của Bộ Nội vụ).
Từ tháng 6/1965, thị xã Hà Đông là tỉnh lỵ tỉnh Hà Tây (tỉnh Hà Đông và tỉnh Sơn Tây sáp nhập -Thực hiện Quyết định số 103/NQ/TVQH, ngày 21/4/1965 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội).
Lần thứ Năm: Từ ngày 1/4/1970, Hai xã Văn Khê (Hoài Đức) và Kiến Hưng (Thanh Oai) được sáp nhập trở lại địa bàn Thị xã (Thực hiện Quyết định số 178- CP ngày 15/9/1969 của Hội đồng Chính phủ). Thị xã gồm nội thị và 5 xã ngoại thị. Diện tích tự nhiên là 16 km2.
 Từ tháng 8/1975, nội thị lập thành 4 tiểu khu (cấp chính quyền chưa hoàn chỉnh) là: Yết Kiêu, Quang Trung, Lê Lợi, Tô Hiệu (Thực hiện Quyết định số 241 ngày 17/6/1975 của UBHC tỉnh). Nội thị có 35.239 người, diện tích tự nhiên là 93,3 ha.
Từ tháng 3/1976, thị xã Hà Đông là tỉnh lỵ tỉnh Hà Sơn Bình (tỉnh Hà Tây và tỉnh Hoà Bình sáp nhập- Thực hiện Quyết định của Quốc hội khoá V, kỳ họp thứ 2, ngày 27/12/1975).
Ngày 19/5/1981, thành lập Ba phường là: Yết Kiêu, Quang Trung, Nguyễn Trãi (Lê Lợi, Tô Hiệu)- trên cơ sở 4 tiểu khu (Thực hiện Quyết định số 87/QĐ-UB ngày 24/4/1981 của UBND tỉnh). Thị xã gồm 3 phường và 5 xã.
Từ 1/10/1991, thị xã Hà Đông là tỉnh lỵ của tỉnh Hà Tây (chia tỉnh Hà Sơn Bình thành 2 tỉnh cũ: Hà Tây và Hoà Bình - Quyết định của Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 9, ngày 12/8/1991).
Ngày 23/8/1994, thành lập các phường: Văn Mỗ (Văn Quán, Mỗ Lao) và Phúc La (Yên Phúc, Xa La) - (giải thể xã Văn Yên và nâng cấp thành 2 phường- Thực hiện Nghị định số 52/CP ngày 23/6/1994 của Chính phủ). Thị xã gồm 5 phường và 4 xã.
Lần thứ Sáu:  Từ ngày 1/11/2003, thành lập các phường: Hà Cầu và Vạn Phúc (trên cơ sở xã Hà Cầu và xã Vạn Phúc). Từ 1/12/2003, các xã: Yên Nghĩa (Hoài Đức), Phú Lương và Phú Lãm (Thanh Oai) được sáp nhập vào Thị xã (Thực hiện Nghị định 107/NĐ-CP ngày 16/9/2003 của Chính phủ). Thị xã Hà Đông gồm 7 phường và 5 xã; diện tích tự nhiên là 33,27km2, dân số là 129.479 người.
Lần thứ Bảy: Từ ngày 1/3/2006, các xã Dương Nội (Hoài Đức), Biên Giang (Bao gồm cả thôn Phượng Bãi -xã Phụng Châu, Chương Mỹ), và  Đồng Mai (Thanh Oai) được sáp nhập vào Thị xã (Thực hiện Nghị định số 01/2006/NĐ-CP ngày 4/1/2006 của Chính phủ). Thị xã Hà Đông gồm 7 phường và 8 xã. Bảy phường là: Yết Kiêu, Quang Trung, Nguyễn Trãi, Văn Mỗ, Phúc La, Hà Cầu, Vạn Phúc. Tám xã là: Văn Khê, Kiến Hưng, Yên Nghĩa, Phú Lương, Phú Lãm, Biên Giang, Đồng Mai, Dương Nội.
Trong 7 lần điều chỉnh địa giới hành chính trên, có 5 lần đầu nhằm đáp ứng yêu cầu kháng chiến (chống Pháp và chống Mỹ) và hai lần gần đây là nhằm đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Từ ngày 4/4/2006, thị xã Hà Đông là đô thị loại III  (Quyết định số 605 QĐ/BXD, ngày 4/4/2006 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng).
Ngày 27/12/2006, Chính Phủ ra Nghị định số 155/CP/2006 về việc thành lập thành phố Hà Đông thuộc tỉnh Hà Tây trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Hà Đông; Nghị định có hiệu lực từ ngày 19/1/2007.
Lần thứ tám: Thực hiện Nghị quyết 15/2008/QH12 ngày 29/5/2008 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc điều chỉnh địa giới hành chính Hà Nội và một số tỉnh có liên quan được ban hành.
Ngày 8/5/2009, Nghị quyết 19/2009/QH12 của Quốc hội đã điều chỉnh tên gọi của Thành phố Hà Đông thành quận Hà Đông với toàn bộ diện tích và dân số tự nhiên của Thành phố Hà Đông.
Như vậy, trải qua hơn 100 năm hình thành và phát triển, qua 8 lần tách, nhập, đổi tên địa giới hành chính, trải qua những thăng trầm của lịch sử, Hà Đông vẫn luôn có vị trí lý tưởng trong quá trình xây dựng và phát triển, luôn là trung tâm phát triển kinh tế- văn hóa- xã hội./

Taxi tải thành hưng, chuyển nhà trọn gói

 

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây