Hotline: 0437 733 733

Dịch vụ chuyển nhà thành hưng trọn gói tỉnh Quảng Nam

 chuyển nhà quảng nam: taxi tai quang nam là tỉnh ven biển, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Diện tích tự nhiên hơn 10.408 km2 với 18 đơn

 chuyển nhà thành hưng quảng nam: taxi tai quang nam là tỉnh ven biển, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Diện tích tự nhiên hơn 10.408 km2 với 18 đơn vị hành chính cấp huyện với dân số gần 1,5 triệu người có 93,6% là dân tộc kinh, gần 6,4% dân số là các dân tộc ít người (trong đó chủ yếu là dân tộc Cơ-Tu, Xơ đăng, Mnông, Co, Gié-Triêng,..); dân số thành thị chiếm 17,51%; dân số 15 tuổi  trở lên hơn 1,09 triệu người chiếm tỷ lệ 72,94% trong tổng dân số.

 Chuyển nhà thành hưng  chuyển nhà kiến vàng  Chuyển nhà thành hưng  taxi tải thành hưng Là  tỉnh có cả miền núi, trung du, đồng bằng, đô thị, vùng cát ven biển và hải đảo. Hệ thống sông ngòi Quảng Nam khá chằng chịt. Đồng bằng Quảng Nam bị nhiều sông ngòi chia cắt và nhiều ngọn núi nổi lên ngay giữa đồng bằng. Đồng bằng so với các tỉnh Trung bộ tương đối rộng, có nơi khoảng cách từ bờ biển vào giáp núi rộng hơn 40 km. Đất sản xuất nông nghiệp 110.704 ha chiếm 10,61% diện tích đất tự nhiên và chiếm 16,26% diện tích đất nông lâm nghiệp. Diện tích rừng và đất lâm nghiệp chiếm hơn 80% tổng diện tích đất nông lâm nghiệp, được phân bổ chủ yếu trên địa bàn 8 huyện miền núi của tỉnh, có địa hình phức tạp nhưng tài nguyên rừng là tiềm năng lớn.

    Sau hơn 10 năm tái lập tỉnh nền kinh tế đã có nhiều đổi thay, đạt nhiều thành tựu nổi bật. Lực lượng sản xuất các thành phần kinh tế phát triển khá nhanh, thu hút đầu tư và nội lực đã được tăng cường đáng kể; số lượng các cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp tăng gấp hàng chục lần; vốn đầu tư phát triển được huy động ngày càng lớn, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng nông thôn phát triển đáng kể; đã đầu tư hình thành các vùng trọng điểm kinh tế với các khu, cụm công nghiệp; khu đô thị mới, khu du lịch; nâng cấp và mở rộng các đô thị; kinh tế nông nghiệp, nông thôn chuyển dịch tích cực, miền núi được đầu tư hạ tầng và cải thiện đáng kể về kinh tế và giảm nghèo; nhất là đầu tư công nghiệp, du lịch, xuất khẩu trên địa bàn tỉnh phát triển nhanh cả về qui mô và tốc độ, đã thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch rõ nét cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đặc biệt khu KTM Chu Lai đã được thành lập từ năm 2003 (QĐ 108 của Thủ tướng Chính phủ) và khu kinh tế Cửa khẩu Nam Giang vừa được thành lập năm 2006 (QĐ 211 của Thủ tướng Chính phủ) tạo động lực để Quảng Nam tăng tốc và cất cánh.  

    Với những đặc điểm về tự nhiên, vị trí địa lý, nguồn tài nguyên phong phú, nhân lực dồi dào và những thành tựu kinh tế xã hội quan trọng đã được đạt được trong 10 năm qua là điều kiện thuận lợi để Quảng Nam tiếp tục phát triển. 

2. Những thành tựu kinh tế chủ  yếu

    Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam năm 2008 gặp nhiều khó khăn như thiên tai, dịch bệnh, giá cả lạm phát tăng cao, ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến sản xuất và đời sống. Mặc dù đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm tháo gở khó khăn, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn chậm so với năm 2007.

    Tốc  độ tăng trưởng GDP năm 2008 đạt 12,7%, thấp hơn 2007 (14,42%). Đóng góp vào tăng trưởng chung của nền kinh tế năm nay khu vực công nghiệp xây dựng đóng góp 6,57%/12,7%, khu vực dịch vụ: 5,9%/12,7%. Nhờ thực hiện các giải pháp kích cầu, chống lạm phát của Chính phủ, nền kinh tế vẫn bảo đảm mức độ tăng trưởng ổn định và đồng đều giữa các khu vực và ngành kinh tế .

    Tốc  độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) qua các năm

                                                                  %

   
Toàn bộ nền kinh tế
Chia ra
Nông, lâm nghiệp và thủy sản Công nghiệp,

Xây dựng

 
Dịch vụ
- Năm 2002 9,04 2,99 17,97 9,70
- Năm 2004 11,55 3,20 20,18 12,96
- Năm 2006 13,46 3,87 21,56 14,00
- Sơ bộ năm 2008 12,70 0,91 17,37 15,77

    Một trong những mục tiêu quan trọng của phương hướng chung về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tỉnh công nghiệp, bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và cơ cấu thành phần kinh tế. Trong những năm qua xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế là tích cực và rỏ nét, nhất là cơ cấu ngành. Tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ chiếm trong tổng GDP đã tăng dần lên qua các năm, giảm tỷ trọng của khu vực nông nghiệp, trong khi vẫn duy trì được tốc độ tăng của ba khu vực và các ngành kinh tế. Khu vực công nghiệp - xây dựng từ 28,38% (2002) tăng lên 35,53% (2006) và năm 2008 chiếm 38,18%. Khu vực dịch vụ từ 33,45% (2002) tăng lên 35,48% (2006) và năm 2008 chiếm 36,84%. Tỷ trọng khu vực nông nghiệp từ 38,17% (2002) giảm còn 29% (2006) và năm 2008 còn 24,98%. Đây là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

      Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP)

    •       Phân theo khu vực kinh tế               %

  Tổng số Chia ra
Nông, lâm nghiệp và thủy sản Công nghiệp,

Xây dựng

Dịch vụ
- Năm 2002 100,00 38,17 28,38 33,45
- Năm 2004 100,00 33,27 32,10 34,63
- Năm 2006 100,00 28,99 35,53 35,48
- Sơ bộ năm 2008 100,00 24,98 38,18 36,84

    Vốn  đầu tư toàn xã hội là chỉ tiêu quan trọng, đóng vai trò quyết định trong việc phát triển và tăng trưởng kinh tế, giải quyết nhiều vấn đề xã hội. Đầu tư phát triển trực tiếp làm tăng tài sản cố định, tài sản lưu động, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực; đồng thời góp phần quan trọng vào việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm nâng cao mức sống dân cư và mặt bằng dân trí; bảo vệ môi trường sinh thái và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác. Tỷ trọng vốn đầu tư toàn xã hội chiếm trong GDP trên địa bàn đã tăng từ 37,77% năm 2002 lên 40,73% GDP năm 2008.

    Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn năm 2008 đạt 1280 tỷ đồng. Các khoản  thu lớn như thu nội địa, thuế xuất nhập khẩu qua các năm đều tăng. Tỷ lệ thu ngân sách trên địa bàn/GDP: 7,3%. Chi ngân sách trong những năm qua bảo đảm được các khoản chi thường xuyên và tăng cường chi cho đầu tư phát triển. Các khoản chi từ ngân sách địa phương chủ yếu tập trung cho đầu tư xây dựng cơ bản và xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội. Năm 2008 chi cho đầu tư xây dựng cơ bản  chiếm 34,28% trong tổng chi. Trong các khoản chi thường xuyên chú trọng các khoản chi cho sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá (chiếm tỷ trọng trên 52% trong chi thường xuyên) góp phần quan trọng vào việc nâng cao đời sống dân cư.

    Đến nay, toàn tỉnh có 100% xã, phường, thị trấn đã chuẩn về phổ cập Tiểu học và chống mù chữ, trong đó có 227/240 xã, phường, thị trấn phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi đạt 94,6%; 15/18 huyện phổ cập THCS, có 215 xã đạt chuẩn về phổ cập THCS đạt 89,58% số xã, tăng 11,04% so với năm học trước. Toàn tỉnh có 204 trường mầm non, tiểu học, THCS được công nhận chuẩn Quốc gia.

     Công tác y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng có  nhiều tiến bộ đáng kể. Năm 2008 bình quân 1 vạn dân có 4,45 bác sĩ; 20,65 cán bộ y tế/1 vạn dân; 24,84 giường bệnh/1 vạn dân. Đến nay, 100% số xã phường có trạm y tế; tỷ lệ trạm y tế xã, phường có bác sĩ là 34,58%.

   
    Đời sống tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao. Đến nay, toàn tỉnh có 224 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, số lượng thuê bao điện thoại cố định 157.152 thuê bao, mật độ điện thoại trung bình trên 100 dân năm 2008 đạt  10,48 máy. Tỷ lệ người dân sử dụng internet trên địa bàn tỉnh năm 2008 là 0,76 người/100 dân, có 219 bưu cục khu vực và bưu điện văn hoá xã.

    

3. Các mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế  đến năm 2010

    3.1. Mục tiêu chung

    - Đảm bảo tăng trưởng kinh tế với tốc độ nhanh, hiệu quả cao và bền vững nhằm xây dựng tỉnh Quảng Nam trở thành Tỉnh có kinh tế phát triển và mở cửa trong khu vực.

    - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với thế mạnh của Tỉnh và phương hướng phát triển chung của cả khu vực miền Trung và Vùng kinh tế  trọng điểm miền Trung.

    - Phát triển mạnh kinh tế vùng ven biển, các thành phố  Tam Kỳ, Hội An và các thị trấn, các khu công nghiệp, cảng biển, đồng thời chú trọng và quan tâm phát triển nâng cao mức sống, trình độ dân trí, tăng cường đầu tư công cộng cho vùng miền núi khó khăn, vùng dân cư bãi ngang ven biển và các khu vực có nhiều đối tượng chính sách xã hội.

    - Bảo đảm hài hoà giữa phát triển kinh tế  với tiến bộ, dân chủ và công bằng xã hội, bảo vệ và tái tạo môi trường tự nhiên, làm cho chất lượng cuộc sống không ngừng được cải thiện. Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai.

    - Kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh và ổn định xã hội trong từng giai đoạn.

    3.2. Các chỉ tiêu chủ yếu

    - Tổng sản phẩm GDP tăng bình quân 14 %

    - Cơ cấu công nghiệp - xây dựng và dịch vụ  chiếm trên 82% trong GDP vào năm 2010.

    - Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 28%

    - Giá trị các ngành dịch vụ tăng bình quân 18%.

    - Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp tăng bình quân 5%

    - Thu phát sinh kinh tế tăng bình quân 20%

    - Huy động vốn đầu tư toàn xã hội 44.000 tỷ  đồng, tăng bình quân 26%

    - Kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 1.150 triệu USD, tăng bình quân 27%.

    - Giải quyết việc làm mới 180.000 lao động trong 5 năm

    - Tỷ lệ lao động được đào tạo đến năm 2010 chiếm trên 40%

    - Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đến năm 2010 chiếm trên 45%

    - Giảm tỷ lệ sinh bình quân 0,04%

    - Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn dưới 18% vào năm 2010 (tiêu chí mới)

    - Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống dưới 20% vào năm 2010.

    - Hoàn thành phổ cập THCS toàn tỉnh vào năm 2007.

    - Hoàn thành công tác gọi công dân nhập ngũ hằng năm đạt 100%

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây